Bị đơn vắng mặt tại nơi cư trú thì vụ án giải quyết thế nào?


Trong quá trình xét xử các vụ án dân sự, việc bị đơn vắng mặt tại nơi cư trú là một tình huống khá phổ biến, gây khó khăn cho quá trình giải quyết vụ án. Vậy trong trường hợp bị đơn vắng mặt, vụ án sẽ được giải quyết như thế nào? Hãy cùng fv888 xem qua bài viết sau để được giải đáp thắc mắc và biết thêm các thông tin hữu ích nhé!

Bị đơn vắng mặt tại nơi cư trú thì vụ án giải quyết thế nào?
Bị đơn vắng mặt tại nơi cư trú thì vụ án giải quyết thế nào?

1. Cư trú là gì?

Căn cứ theo quy định của Bộ Luật Dân sự 2015, nơi cư trú của bị đơn là nơi người đó thường xuyên cư trú, sinh hoạt. Đồng thời, nơi cư trú của bị đơn còn là nơi cá nhân đó dùng làm căn cứ để thực hiện, xác lập và chịu ràng buộc về các quyền và nghĩa vụ fv88 nhà cái.

Cư trú không chỉ đơn giản là nơi ở mà còn thể hiện mối quan hệ fv88 nhà cái giữa người đó và địa phương đó, thông qua việc đăng ký tạm trú hoặc thường trú tại cơ quan có thẩm quyền và có ý nghĩa quan trọng trong các giao dịch fv88 nhà cái, trong việc xác định thẩm quyền xét xử của tòa án, cũng như trong các vấn đề về quyền lợi công dân, bảo hiểm, giáo dục, y tế, và các vấn đề xã hội khác.

>>>> Xem thêm về Khi nào cần đăng ký tạm trú? Thủ tục đăng ký tạm trú như thế nào? do fv888 cung cấp nhé!

2. Xác định nơi cư trú của bị đơn bằng cách nào?

Xác định nơi cư trú của bị đơn bằng cách nào?
Xác định nơi cư trú của bị đơn bằng cách nào?

Trong một số trường hợp, người khởi kiện không cung cấp đầy đủ hoặc chưa chính xác địa chỉ nơi cư trú của bị đơn thì Tòa án sẽ thực hiện các biện pháp sau để xác định nơi cư trú của bị đơn:

  • Tòa án sẽ tiến hành xác minh địa chỉ nơi cư trú của bị đơn theo quy định tại Điều 190 Bộ luật Tố tụng dân sự.
  • Tòa án sẽ gửi thông báo cho bị đơn về việc khởi kiện và yêu cầu bị đơn trình bày ý kiến về nơi cư trú của mình.
  • Tòa án sẽ gửi thông báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan để cung cấp thông tin về nơi cư trú của bị đơn.

Nếu không thể xác định được nơi cư trú của bị đơn thì Tòa án sẽ áp dụng quy định về nơi cư trú cuối cùng của bị đơn để xác định thẩm quyền giải quyết vụ án.

Trong trường hợp bị đơn là người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi thì nơi cư trú của họ được xác định theo quy định tại Điều 21 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Như vậy, việc xác định nơi cư trú sẽ phụ thuộc vào từng trường hợp cụ thể khác nhau, đồng thời Tòa án cũng sẽ căn cứ vào các quy định của pháp luật để xác định nơi cư trú của bị đơn đảm bảo vụ án được giải quyết theo quy định.

3. Bị đơn vắng mặt tại nơi cư trú thì giải quyết vụ án thế nào?

Tại Điều 5 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP quy định người khởi kiện đã cung cấp địa chỉ “nơi cư trú, làm việc, hoặc nơi có trụ sở” của người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cho Tòa án theo đúng quy định của pháp luật và hướng dẫn tại khoản 1 Điều 5 của Nghị quyết tại thời điểm nộp đơn khởi kiện mà được cơ quan, tổ chức có thẩm quyền cấp, xác nhận hoặc có căn cứ khác chứng minh rằng đó là địa chỉ của người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thì được coi là đã ghi đúng địa chỉ của người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

Hướng giải quyết vụ án về việc ghi địa chỉ cư trú của người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan như sau theo Điều 6 Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP:

  1. Trường hợp trong đơn khởi kiện người khởi kiện đã ghi đầy đủ và đúng địa chỉ của người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo hướng dẫn tại Điều 5 Nghị quyết này thì Tòa án phải nhận đơn khởi kiện và xem xét thụ lý vụ án theo thủ tục chung.
  2. Trường hợp sau khi thụ lý vụ án, Tòa án không tổng đạt được thông báo về việc thụ lý vụ án do bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không còn cư trú, làm việc hoặc không có trụ sở tại địa chỉ mà nguyên đơn cung cấp thì Tòa án giải quyết như sau:

– Trường hợp trong đơn khởi kiện, người khởi kiện đã ghi đầy đủ và đúng địa chỉ nơi cư trú, làm việc hoặc nơi có trụ sở của người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo địa chỉ được ghi trong giao dịch, hợp đồng bằng văn bản thì được coi là “đã ghi đầy đủ và đúng địa chỉ nơi cư trú, làm việc hoặc nơi có trụ sở”. Trường hợp người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thay đổi nơi cư trú, làm việc hoặc nơi có trụ sở gắn với việc thực hiện quyền, nghĩa vụ trong giao dịch, hợp đồng mà không thông báo cho người khởi kiện biết về nơi cư trú, làm việc hoặc nơi có trụ sở mới theo quy định tại khoản 3 Điều 40, điểm b khoản 2 Điều 277 BLDS năm 2015 thì được coi là cố tình giấu địa chỉ và Tòa án tiếp tục giải quyết theo thủ tục chung mà không đình chỉ việc giải quyết vụ án vì lý do không tống đạt được cho bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;

– Trường hợp trong đơn khởi kiện, người khởi kiện đã ghi đầy đủ và đúng địa chỉ nơi có trụ sở của người bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là cơ quan, tổ chức theo hướng dẫn tại điểm d khoản 1 Điều 5 Nghị quyết này thì được coi là “đã ghi đầy đủ và đúng địa chỉ trụ sở”. Trường hợp cơ quan, tổ chức thay đổi trụ sở mà không công bố công khai theo quy định tại khoản 1 Điều 79 Bộ luật dân sự năm 2015 thì được coi là cố tình giấu địa chỉ và Tòa án tiếp tục giải quyết vụ án theo thủ tục chung mà không đình chỉ việc giải quyết vụ án vì lý do không tống đạt được cho bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;

– Trường hợp không thuộc điểm a, b khoản 2 Điều 5 Nghị quyết mà Tòa án đã yêu cầu nguyên đơn cung cấp địa chỉ mới của bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhưng nguyên đơn không cung cấp được thì có quyền yêu cầu Tòa án thu thập, xác minh địa chỉ mới của bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo quy định của pháp luật. Trường hợp Tòa án không xác định được địa chỉ mới của bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thì Tòa án đình chỉ việc giải quyết vụ án theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 217 BLTTDS năm 2015, trừ trường hợp hướng dẫn tại khoản 3 Điều này.

Vậy nên, trong trường hợp không thể xác định được nơi cư trú của bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thì tòa án sẽ không được đình chỉ giải quyết vụ án để trả hồ sơ vụ kiện như trước đây mà phải tiếp tục giải quyết vụ án theo thủ tục tố tụng chung đã được quy định trong Bộ luật Tố tụng dân sự 2015. Trong trường hợp tòa không thể xác định được nơi cư trú của bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thì tòa án có thể thông qua thủ tục niêm yết để xét xử vắng mặt. Hoặc tòa án có thể thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng khi có yêu cầu của các đương sự khác trong vụ án.

>>>> Cùng fv888 xem qua Lệ phí đăng ký tạm trú là bao nhiêu? nhé!

4. Câu hỏi thường gặp

Khi bị đơn vắng mặt, tòa án có thể triệu tập lại bị đơn không?

Tòa án có thể triệu tập lại bị đơn nếu có lý do phù hợp, nếu bị đơn không có mặt lần thứ hai mà không có lý do chính đáng, tòa sẽ tiến hành xét xử và đưa ra phán quyết.

Bị đơn vắng mặt tại nơi cư trú có ảnh hưởng đến quyền lợi của họ không?

Nếu bị đơn vắng mặt mà không có lý do chính đáng, họ có thể mất quyền bảo vệ quyền lợi của mình trong phiên tòa, và tòa sẽ quyết định dựa trên các chứng cứ có sẵn.

Bị đơn vắng mặt có quyền yêu cầu tòa án hoãn phiên tòa không?

Bị đơn có thể yêu cầu tòa án hoãn phiên tòa nếu có lý do chính đáng và thông báo cho tòa trước khi phiên tòa diễn ra. 

Việc bị đơn vắng mặt tại nơi cư trú không đồng nghĩa với việc vụ án không thể giải quyết. Dù vậy, để đảm bảo quyền lợi của các bên liên quan và tính công bằng của quá trình tố tụng, việc giải quyết vụ án trong trường hợp này cần tuân thủ nghiêm ngặt các quy định của pháp luật. fv888 hy vọng qua bài viết trên, bạn đã biết thông các thông tin hữu ích cũng như giải đáp được thắc mắc về sự việc.


    HÃY ĐỂ LẠI THÔNG TIN TƯ VẤN

    Để lại một bình luận

    Email và số điện thoại của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *