Quy định về giảm giá tài sản bán đấu giá tại Việt Nam


Bán đấu giá tài sản là một phương thức phổ biến để chuyển nhượng tài sản trong các trường hợp như thu hồi nợ, giải quyết các tranh chấp tài chính, hoặc khi tài sản bị tịch thu, thu hồi bởi cơ quan nhà nước. Ở Việt Nam, quy định về giảm giá tài sản bán đấu giá được áp dụng nhằm bảo đảm tính công bằng, minh bạch trong việc đấu giá và thúc đẩy quá trình bán tài sản hiệu quả. Hãy cùng   tìm hiểu giảm giá tài sản bán đấu giá qua bài viết bên dưới nhé.

Quy định về giảm giá tài sản bán đấu giá tại Việt Nam
Quy định về giảm giá tài sản bán đấu giá tại Việt Nam

1. Giảm giá trong bán đấu giá là gì?

Giảm giá trong bán đấu giá là một biện pháp được áp dụng khi tài sản đưa ra bán đấu giá không có người đăng ký mua hoặc không có người trả giá. Đây là cơ chế nhằm tạo điều kiện để tài sản có thể được bán thành công, tránh tình trạng kéo dài, gây lãng phí thời gian và chi phí tổ chức đấu giá. Theo đó, tổ chức đấu giá hoặc người có tài sản đấu giá có thể quyết định hạ mức giá khởi điểm trong những lần đấu giá tiếp theo để thu hút người tham gia.

Việc giảm giá phải tuân theo các quy định pháp luật về đấu giá tài sản. Cụ thể, theo Luật Đấu giá tài sản năm 2016 và các văn bản hướng dẫn, trong trường hợp đấu giá lần đầu không thành, người có tài sản đấu giá có quyền xem xét điều chỉnh lại giá khởi điểm. Mức giảm giá phải được cân nhắc trên cơ sở giá trị thực tế của tài sản và tình hình thị trường, bảo đảm vừa tạo được sự hấp dẫn đối với người mua, vừa hạn chế thiệt hại cho chủ sở hữu tài sản.

Ngoài ra, việc giảm giá cũng phải tuân thủ nguyên tắc công khai, minh bạch. Giá khởi điểm sau khi được điều chỉnh cần được thông báo rộng rãi đến công chúng trước phiên đấu giá tiếp theo. Điều này giúp người tham gia nắm bắt thông tin kịp thời và có quyết định phù hợp. Nếu sau nhiều lần giảm giá mà tài sản vẫn không bán được, chủ sở hữu có thể xem xét hình thức xử lý khác như bán chỉ định theo quy định pháp luật.

Như vậy, có thể hiểu giảm giá trong bán đấu giá là việc điều chỉnh hạ thấp giá khởi điểm để tăng tính khả thi cho việc bán tài sản, đồng thời bảo đảm quyền lợi của các bên liên quan. Đây là một cơ chế quan trọng giúp hoạt động đấu giá diễn ra hiệu quả, hạn chế tình trạng “ế” tài sản, nhất là trong những trường hợp tài sản có giá trị lớn hoặc ít người quan tâm.

Xem thêm Tài sản đảm bảo bao gồm những gì? tại đây 

2. Quy định về giảm giá tài sản bán đấu giá tại Việt Nam

Theo quy định tại Điều 41 Luật Đấu giá 2016 quy định về đấu giá trực tiếp bằng lời nói tại cuộc đấu giá như sau:

Việc chấp nhận giá trong trường hợp đấu giá theo phương thức đặt giá xuống được thực hiện như sau:

  • Đấu giá viên đưa ra giá để người tham gia đấu giá chấp nhận giá. Người chấp nhận giá khởi điểm là người trúng đấu giá;
  • Đấu giá viên công bố mức giảm giá và tiến hành đấu giá tiếp trong trường hợp không có người nào chấp nhận giá khởi điểm hoặc mức giá đã giảm. Người chấp nhận mức giá đã giảm là người trúng đấu giá;
  • Trường hợp có từ hai người trở lên cùng chấp nhận giá khởi điểm hoặc mức giá đã giảm thì đấu giá viên tổ chức bốc thăm để chọn ra người trúng đấu giá.

Theo quy định tại Điều 42 Luật Đấu giá 2016 quy định về đấu giá bằng bỏ phiếu trực tiếp tại cuộc đấu giá như sau:

Việc chấp nhận giá trong trường hợp đấu giá theo phương thức đặt giá xuống được thực hiện như sau:

  • Người tham gia đấu giá được phát một tờ phiếu chấp nhận giá, ghi việc chấp nhận, giá khởi điểm mà đấu giá viên đưa ra vào phiếu của mình. Hết thời gian ghi phiếu, đấu giá viên yêu cầu người tham gia đấu giá nộp phiếu chấp nhận giá hoặc bỏ phiếu vào hòm phiếu; kiểm đếm số phiếu phát ra và số phiếu thu về;
  • Đấu giá viên công bố việc chấp nhận giá của từng người tham gia đấu giá với sự giám sát của ít nhất một người tham gia đấu giá;
  • Đấu giá viên công bố người chấp nhận giá khởi điểm và công bố người đó là người trúng đấu giá. Trường hợp không có người nào chấp nhận giá khởi điểm thì đấu giá viên công bố mức giảm giá và tiến hành việc bỏ phiếu với mức giá đã giảm;
  • Trường hợp có từ hai người trở lên cùng chấp nhận giá khởi điểm hoặc giá đã giảm thì đấu giá viên tổ chức bốc thăm để chọn ra người trúng đấu giá.

3. Kết quả đấu gia sau khi giảm giá như thế nào?

Kết quả đấu gia sau khi giảm giá như thế nào?
Kết quả đấu gia sau khi giảm giá như thế nào?

Theo quy định tại Điều 46 Luật Đấu giá 2016 quy định về hợp đồng mua bán tài sản đấu giá, phê duyệt kết quả đấu giá tài sản như sau:

  • Kết quả đấu giá tài sản là căn cứ để các bên ký kết hợp đồng mua bán tài sản đấu giá hoặc cơ sở để cơ quan có thẩm quyền phê duyệt.
  • Hợp đồng mua bán tài sản đấu giá được ký kết giữa người có tài sản đấu giá với người trúng đấu giá hoặc giữa người có tài sản đấu giá, người trúng đấu giá và tổ chức đấu giá tài sản nếu các bên có thỏa thuận, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Hợp đồng mua bán tài sản đấu giá được thực hiện theo quy định của pháp luật về dân sự.
  • Người trúng đấu giá được coi như chấp nhận giao kết hợp đồng mua bán tài sản đấu giá kể từ thời điểm đấu giá viên công bố người trúng đấu giá, trừ trường hợp người trúng đấu giá từ chối ký biên bản đấu giá quy định tại khoản 3 Điều 44 của Luật này hoặc từ chối kết quả trúng đấu giá quy định tại Điều 51 của Luật này. Kể từ thời điểm này, quyền và nghĩa vụ của các bên được thực hiện theo quy định của pháp luật về dân sự và quy định khác của pháp luật có liên quan.
  • Trình tự, thủ tục, thẩm quyền phê duyệt kết quả đấu giá tài sản được thực hiện theo quy định của pháp luật có liên quan.

4. Xử lý tài sản không có người tham gia đấu giá, bán đấu giá không thành trong thi hành án dân sự

Căn cứ Điều 104 Luật Thi hành án dân sự 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014) quy định về xử lý tài sản không có người tham gia đấu giá, bán đấu giá không thành như sau: 

– Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được thông báo của tổ chức bán đấu giá về việc tài sản đưa ra bán đấu giá lần đầu nhưng không có người tham gia đấu giá, trả giá hoặc bán đấu giá không thành thì Chấp hành viên thông báo và yêu cầu đương sự thỏa thuận về mức giảm giá tài sản.

Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được thông báo, nếu đương sự không thỏa thuận hoặc thỏa thuận không được về mức giảm giá thì Chấp hành viên quyết định giảm giá tài sản để tiếp tục bán đấu giá.

– Từ sau lần giảm giá thứ hai trở đi mà không có người tham gia đấu giá, trả giá hoặc bán đấu giá không thành thì người được thi hành án có quyền nhận tài sản để trừ vào số tiền được thi hành án.

Trường hợp người được thi hành án đồng ý nhận tài sản để trừ vào số tiền được thi hành án, trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được thông báo về việc không có người tham gia đấu giá, trả giá hoặc bán đấu giá không thành thì Chấp hành viên thông báo cho người phải thi hành án biết.

Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày người phải thi hành án nhận được thông báo về việc người được thi hành án đồng ý nhận tài sản để thi hành án, nếu người phải thi hành án không nộp đủ số tiền thi hành án và chi phí thi hành án để lấy lại tài sản đưa ra bán đấu giá thì Chấp hành viên giao tài sản cho người được thi hành án.

Đối với tài sản là bất động sản, động sản phải đăng ký quyền sở hữu, sử dụng thì Chấp hành viên ra quyết định giao tài sản cho người được thi hành án để làm thủ tục đăng ký, cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu, sử dụng tài sản đó cho người được thi hành án. Người phải thi hành án, người đang quản lý, sử dụng tài sản không tự nguyện giao tài sản cho người được thi hành án thì bị cưỡng chế thi hành án.

– Trường hợp người được thi hành án không đồng ý nhận tài sản để thi hành án thì Chấp hành viên ra quyết định giảm giá tài sản để tiếp tục bán đấu giá. Nếu giá trị tài sản đã giảm bằng hoặc thấp hơn chi phí cưỡng chế mà người được thi hành án vẫn không nhận để trừ vào số tiền được thi hành án thì tài sản được giao lại cho người phải thi hành án quản lý, sử dụng. Người phải thi hành án không được đưa tài sản này tham gia các giao dịch dân sự cho đến khi họ thực hiện xong nghĩa vụ thi hành án.

– Đối với tài sản bán đấu giá để thi hành các khoản nộp ngân sách nhà nước, trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được thông báo về việc tài sản đưa ra bán đấu giá nhưng không có người tham gia đấu giá, trả giá hoặc bán đấu giá không thành thì Chấp hành viên quyết định giảm giá để tiếp tục bán đấu giá tài sản.

– Mỗi lần giảm giá theo quy định tại các khoản 1, 3 và 4 Luật Thi hành án dân sự 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014) không quá 10% giá khởi điểm của lần bán đấu giá liền kề trước đó.

Xem thêm Tài sản ngắn hạn bao gồm những gì? tại đây 

5. Câu hỏi thường gặp

Cần phải làm gì trước khi giảm giá tài sản bán đấu giá?

Trước khi giảm giá tài sản, tổ chức đấu giá cần phải tiến hành đánh giá lại giá trị của tài sản và đảm bảo mọi thủ tục fv88 nhà cái, sau đó phê duyệt mức giảm giá và thông báo công khai cho các bên tham gia.

Có giới hạn số lần giảm giá tài sản không?

Không có giới hạn cụ thể về số lần giảm giá tài sản, nhưng mức giảm giá và số lần giảm giá sẽ được điều chỉnh và phê duyệt dựa trên các yếu tố cụ thể của từng tài sản và tình hình thực tế của phiên đấu giá.

Nếu tài sản vẫn không bán được sau khi giảm giá, sẽ xảy ra điều gì?

Nếu tài sản vẫn không bán được sau khi giảm giá, tùy theo tình huống, có thể tiếp tục tổ chức các phiên đấu giá với mức giảm giá khác hoặc tìm các phương án khác để xử lý tài sản đó.

Hy vọng bài viết trên của đã cung cấp đến quý độc giả những thông tin cần thiết về giảm giá tài sản bán đấu giá. Mọi thông tin thắc mắc, fv88 tài xỉu có thể liên hệ fv888 để biết thêm chi tiết.


    HÃY ĐỂ LẠI THÔNG TIN TƯ VẤN

    Để lại một bình luận

    Email và số điện thoại của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *